CHƯƠNG 2. THẠCH QUYỂN
CÂU HỎI THẠCH QUYỂN
1. THẠCH QUYỂN. NỘI LỰC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NỘI LỰC ĐẾN ĐỊA HÌNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT
1. Phân biệt thạch quyển với vỏ Trái Đất.
2. Tại sao nói lớp Manti có ý nghĩa lớn đối với lớp vỏ Trái Đất?
3. Nội lực là gì? Nguyên nhân sinh ra nội lực?
4. Các vận động kiến tạo tác động như thế nào đến địa hình bề mặt Trái Đất?
5. Sự dịch chuyển của các mảng kiến tạo có mối quan hệ như thế nào với việc hình thành các nếp uốn và đứt gãy.
6. Tại sao có miền núi uốn nếp, địa luỹ, địa hào?
7. Tại sao có núi lửa, động đất?
8. Tại sao cần phải quan tâm nghiên cứu đến đứt gãy trong việc tìm kiếm khoáng sản và xây dựng các công trình?
9. Giải thích tại sao trên Trái Đất có các hiện tượng uốn nếp, đứt gãy; hiện tượng các dạng địa hình bị biến đổi.
10. Sự phân bố các vành đai động đất chính, các vành đai núi lửa tập trung và các vùng núi
2. NGOẠI LỰC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI LỰC ĐẾN ĐỊA HÌNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT
1. Ngoại lục là gì? Trình bày nguyên nhân sinh ra ngoại lực và các biểu hiện?
2. Tại sao nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ của Mặt Trời?
3. Các nhân tố ngoại lực đã có tác động như thế nào đến địa hình trên bề mặt Trái Đất?
4. Quá trình phong hoá là gì? Tại sao quá trình phong hóa lại xảy ra mạnh nhất ở bề mặt Trái Đất?
5. Phân biệt các quá trình phong hoả lí học, hoá học, sinh học.
6. Vì sao phong hóa lí học lại xảy ra mạnh ở các miền khí hậu khô nóng (hoang mạc và bán hoang mạc) và miền có khí hậu lạnh?
7. Tại sao kết quả của phong hoả lí học là làm cho đã bị rạn nứt, vỡ thành những tảng và mảnh vụn?
8. Tại sao ở các miền địa cực (lạnh khô) và hoang mạc, bản hoang mạc có phong hoá lí học thể hiện rõ nhất; còn các miền nhiệt đới ẩm, cận xích đạo,phong hoá hoá học lại diễn ra mạnh hơn?
9. Tại sao phong hoá li học xảy ra mạnh ở các miền khí hậu khô nóng(hoang mạc và bán hoang mạc) và miền có khí hậu lạnh, còn phong hoá hoa học xảy ra mạnh ở những miền nóng ẩm?
10. Giải thích tại sao các hang động cacxtơ và các đồng bằng phù sa châu thổ thường có ở miền khí hậu xích đạo nóng ẩm và khí hậu gió mùa ẩm ướt.
11. Phân biệt các quá trình bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ. Giữa chúng có mối quan hệ như thế nào?
12. Tại sao các địa hình dòng chảy vừa có dạng bồi tụ, vừa có dạng bào mòn?
13. Tại sao nói các dạng địa hình trên bề mặt Trái Đất là sản phẩm của sự tác động đồng thời nội lực và ngoại lực? Nội lực hay ngoại lực có vai trò quan trọng hơn trong sự hình thành địa hình trên Trái Đất?
14. Tại sao có các dạng địa hình trên bề mặt Trái Đất?
15. Phân biệt nội lực với ngoại lực. Lực nào có vai trò lớn hơn đối với sự hình thành các dạng địa hình trên Trái Đất? Tại sao?
16. Phân tích mối quan hệ của nội lực và ngoại lực trong sự hình thành địa hình bề mặt Trái Đất.
17. Tại sao địa hình trên Trái Đất đa dạng?
I. NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT
- Trình bày được khái niệm thạch quyển; phân biệt được thạch quyển với vỏ Trái Đất.
- Trình bày khái niệm nội lực, ngoại lực; nguyên nhân của chúng; tác động đến sự hình thành địa hình bề mặt Trái Đất.
- Phân tích được sơ đồ, lược đồ, tranh ảnh về tác động của nội lực, ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất.
- Nhận xét và giải thích được sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa trên bản đồ.
II. KIẾN THỨC CƠ BẢN VÀ CHUYÊN SÂU
1. Khái niệm thạch quyển
- Thạch quyển là phần trên cùng của Trái Đất, bao gồm vỏ Trái Đất và phần trên của lớp Manti. Thành phần cấu tạo của thạch quyển chủ yếu là các đá ở thể rắn.
- Giới hạn dưới của thạch quyển ở độ sâu khoảng 100km. Độ dày thạch quyển không đồng nhất, mỏng hơn ở vỏ đại dương và dày hơn ở vỏ lục địa.
2. Nội lực và ngoại lực. Sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa
a) Nội lực
- Nội lực: Là lực sinh ra bởi các quá trình có liên quan đến nguồn năng lượng từ trong lòng Trái Đất (phá huỷ các chất phóng xạ, dịch chuyển vật chất do trọng lực, các phản ứng hoá học).
- Nội lực tạo ra các vận động kiến tạo làm biến dạng vỏ Trái Đất, tạo nên sự thay đổi địa hình. + Hiện tượng uốn nếp: Xuất hiện ở những khu vực vỏ Trái Đất cấu tạo bởi các đá mềm, khi bị nén ép sẽ hình thành các nếp uốn. Nếu cường độ nén ép mạnh sẽ hình thành các vùng núi uốn nếp (hệ thống núi Himalaya, dãy núi AnĐét,...).
+ Hiện tượng đứt gãy: Tại những khu vực cấu tạo bởi đá cứng, các vận động kiến tạo làm các lớp đá của vỏ Trái Đất bị nứt vỡ, hình thành các vết nứt hoặc đứt gãy kéo dài. Hai bên đứt gãy, các bộ phận của vỏ Trái Đất có thể nâng cao (tạo thành dãy núi, khối núi) hoặc hạ thấp (tạo thành thung lũng); dọc theo đứt gãy có thể hình thành biển hoặc các hồ tự nhiên (Biển Đỏ và các hồ ở khu vực phía đông lục địa Phi).
+ Hoạt động núi lửa: Làm thay đổi địa hình do hoạt động phun trào và đông cứng macma trên bề Trái Đất. Các dạng địa hình núi lửa là: hồ tự nhiên (hồ núi lửa hình thành ở miệng núi lửa đã ngừng hoạt động), cao nguyên badan, các đảo, quần đảo ở nhiều vùng biển và đại dương trên thế giới
+ Động đất, núi lửa thường tập trung ở ranh giới các mảng thạch quyển, tạo nên các vành đai động đất và vành đai núi lửa trên Trái Đất.
b) Ngoại lực
- Ngoại lực là lực được sinh ra từ các quá trình xảy ra bên trên bề mặt Trái Đất. Năng lượng bức xạ Mặt trời là nguyên nhân chủ yếu của ngoại lực. Các yếu tố của khí hậu, thủy văn, sinh vật là những nhân tố tác động của ngoại lực.
- Ngoại lực tác động đến địa hình bề mặt thạch quyển thông qua các quá trình: phong hóa, bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ.
+ Phong hóa lí học: Là quá trình phá hủy, làm các đá bị vỡ vụn nhưng không bị thay đổi thành phần và tính chất. Phong hóa lí học thường xảy ra mạnh ở những nơi nhiệt độ có sự dao động lớn. Sự dao động nhiệt cũng có thể làm khối đá bị tách vỡ do nước trong các khe nứt bị đóng băng vào ban đêm hoặc mùa đông.
+ Phong hóa hóa học: Là quá trình phá hủy, làm biến đổi thành phần, tính chất của đá do tác động của nước, nhiệt độ, các chất hòa tan trong nước (khí ôxi, khí cacbonic, các axít hữu cơ và vô cơ...) và sinh vật. Phong hóa hóa học thường tạo nên những dạng địa hình cacxtơ.
+ Phong hóa sinh học: Là quá trình phá hủy đá của sinh vật (thực vật, nấm, vi khuẩn...), làm các đá bị phá hủy cả về lí học và hóa học. Ví dụ: sự tăng trưởng của rễ cây làm đá bị nứt vỡ, các chất hữu cơ từ hoạt động sống của sinh vật có thể làm các đá bị biến đổi về thành phần, tính chất...
+ Bóc mòn: là quá trình các nhân tố ngoại lực (nước chảy, gió, sóng biển, băng hà...) làm rời chuyển các sản phẩm đã bị phong hóa ra khỏi vị trí ban đầu. Quá trình bóc mòn do dòng nước gọi là xâm thực. Quá trình bóc mòn do gió gọi là thổi mòn hay khoét mòn (tạo ra nấm đá, rãnh thổi mòn, hoang mạc đá...). Quá trình bóc mòn do sóng biển gọi là mài mòn (tạo dạng địa hình hàm ếch ở bờ biển). Quá trình bóc mòn do băng hà tạo các dạng địa hình xâm thực (như máng băng, phio, đá lưng cừu...).
+ Vận chuyển: Làm di chuyển theo các nhân tố ngoại lực.
+ Bồi tụ: Tạo nên các dạng địa hình như: nón phóng vật (do dòng tạm thời), bãi bồi và đồng bằng châu thổ (do dòng thường xuyên), đồng bằng băng thủy (do nước băng tan),...
c) Sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa
- Các vành đai động đất chính trên thế giới: Vành đai động đất phía tây lục địa Châu Mĩ, vành đai động đất giữa Đại Tây Dương; vành đai động đất từ Địa Trung Hải, qua Nam Á, đến quần đảo In-đô-nê-xi-a; vành đai động đất bờ Tây Thái Bình Dương từ eo Bê-rinh, qua Nhật Bản, Đài Loan đến Phi-lip-pin.
- Các vành đai núi lửa tập trung: Vành đai núi lửa phía tây lục địa Bắc Mĩ và Nam Mĩ, vành đai núi lửa giữa Đại Tây Dương; vành đai núi lửa từ Địa Trung Hải, qua Nam Á đến quần đảo In-đô-nê-xi-a; vành đai núi lửa bờ Tây Thái Bình Dương từ eo Bê-rinh, qua Nhật Bản, Đài Loan đến Phi-lip-pin.
- Các vùng núi trẻ: Mạch núi trẻ Cóoc-đi-e, AnĐét ở bờ Tây của lục địa Bắc Mĩ và Nam Mĩ; vùng núi trẻ An-pơ, Py-rê-nê, Cáp-ca ven Địa Trung Hải; dãy núi trẻ Hi-ma-lay-a ở Ấn Độ, dãy Tê-nat-xê-rim ở Đông Nam Á.
III. CÂU HỎI VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
Câu 1. Vỏ Trái Đất và thạch quyển khác nhau như thế nào?
Hướng dẫn:
– Thạch quyển: Là phần cứng ngoài cùng của Trái Đất, bao gồm vỏ Trái Đất và phần trên cùng lớp Manti, có độ dày tới 100 km.
– Lớp vỏ Trái Đất: Là phần ngoài cùng của Trái Đất, cấu tạo chủ yếu bằng những vật chất cứng rắn (đá macma, trầm tích và biến chất), độ dày trung bình dao động từ 5 km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục địa).
Câu 2. Lớp Manti có đặc điểm như thế nào? Lớp Manti có vai trò gì?
Hướng dẫn:
- Lớp Manti:
+ Nằm dưới lớp vỏ Trái Đất cho tới độ sâu 2900 km, gồm hai tầng chính: Manti trên và Manti dưới. + Vật chất của bao Manti trên có trạng thái quánh dẻo, không chảy lỏng được nhưng vẫn có thể chuyển động thành dòng đối lưu. Manti dưới rắn.
+ Các dòng đối lưu trong lớp quánh dẻo đó (được gọi là quyển mềm của bao Manti) được hình thành chủ yếu do sự chuyển dịch, sắp xếp lại vật chất trong lòng Trái Đất. Các vật chất nhẹ đi lên vỏ Trái Đất, vật chất nặng chìm xuống sâu.
– Vai trò của lớp Manti:
+ Đây là nơi tích tụ và tiêu hao nguồn năng lượng bên trong, sinh ra các hoạt động kiến tạo làm thay đổi cấu trúc bề mặt Trái Đất như hình thành những dạng địa hình khác nhau, các hiện tượng động đất, núi lửa,...
+ Các mảng kiến tạo lớn của Trái Đất di chuyển trên quyển mềm của bao Manti do nguyên nhân chủ yếu là các dòng đối lưu trong lớp quánh dẻo đó. Các dòng đối lưu đi lên đã tạo ra các sống núi đại dương và đây cũng chính là những dải đứt gãy ở chỗ tiếp xúc của các mảng kiến tạo. Các dòng đối lưu khi rẽ ngang sang hai bên đã gây ra hiện tượng tách dãn đáy đại dương và làm cho các mảng kiến tạo dịch chuyển.
Câu 3. Phân biệt nội lực và ngoại lực. Nội lực và ngoại lực có mối quan hệ với nhau như thế nào trong sự hình thành địa hình bề mặt Trái Đất?
Hướng dẫn:
- Nội lực:
+ Lực phát sinh từ bên trong Trái Đất.
+Nguyên nhân sinh ra nội lực: Chủ yếu do nguồn năng lượng ở trong lòng Trái Đất (do phân huỷ chất phóng xạ, sự dịch chuyển vật chất theo trọng lực, các phản ứng hoá học,....).
+ Tác động của nội lực thông qua các vận động kiến tạo, tạo nên địa hình trên bề mặt Trái Đất.
- Ngoại lực:
+ Lực có nguồn gốc ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất.
+ Nguyên nhân sinh ra ngoại lực: Chủ yếu do nguồn năng lượng của bức xạ mặt trời.
+ Tác động của ngoại lực thông qua các quá trình ngoại lực (phong hoá, bóc mòn, vận chuyển, bồi tụ), làm biến đổi địa hình.
- Mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong việc hình thành địa hình bề mặt Trái Đất: + Đối nghịch nhau: Các quá trình nội lực có xu hướng làm cho bề mặt Trái Đất gỗ ghê hơn, còn các quá trình ngoại lực lại có xu hướng san bằng những chỗ gồ ghề đó.
+ Luôn tác động đồng thời và tạo ra các dạng địa hình trên bề mặt Trái Đất.
+ Trong việc hình thành nên địa hình, mỗi lực có vai trò chủ yếu khác nhau: Nội lực chủ yếu hình thành lên các dạng địa hình lớn như lục địa, đại dương, dãy núi cao, hẻm vực...; ngoại lực đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành nên địa hình cacxtơ, bãi bồi, vách biển, nấm đá, phio...
Câu 4. Vai trò của nội lực và ngoại lực trong sự hình thành địa hình trên Trái Đất khác nhau như thế nào?
Hướng dẫn:
- Nội lực và ngoại lực tác động đồng thời lên bề mặt Trái Đất. Nhìn chung, những biểu hiện của chúng đối nghịch nhau: Các quá trình nội lực có xu hướng làm cho bề mặt Trái Đất gồ ghề hơn, còn quá trình ngoại lực lại có xu hướng san bằng những chỗ gồ ghề đó. Tuy nhiên, chúng rất thống nhất và luôn xen ke, bo sung cho nhau để tạo ra các dạng địa hình bề mặt Trái Đất.
- Không có lực nào có vai trò quan trọng hơn trong sự hình thành địa hình trên bề mặt Trái Đất. Tuy nhiên, đối với mỗi kiểu địa hình thì mỗi lực có vai trò chủ yếu hơn trong việc tạo thành:
+ Các quá trình nội lực chủ yếu tạo nên các địa hình kiến tạo (núi cao, vực sâu, sơn nguyên, cao nguyên,...).
+ Các quá trình ngoại lực chủ yếu tạo nên các địa hình bóc mòn - bồi tụ (vịnh và mũi đất nhô ra biển, thung lũng sông, khe rãnh, hàm ếch sóng vỗ, cồn cát,...).
Câu 5. Nguyên nhân nào làm cho địa hình trên Trái Đất đa dạng?
Hướng dẫn:
- Địa hình được hình thành do tác động đồng thời của nội lực và ngoại lực.
- Các tác động của nội lực và ngoại lực ở các nơi trên Trái Đất khác nhau. Ví dụ: cùng tác động nội lực, nhưng có nơi uốn nếp, có nơi nâng lên hạ xuống; nơi thì tạo thành núi uốn nếp, nơi thì tạo thành địa hào, địa lũy sống ngầm ở dưới đáy đại dương,...; cùng là ngoại lực, nhưng nơi thì tạo thành khe rãnh, mương xói; nơi thì tạo thành nấm đá, cồn cát, vách biển,...
- Sự phối hợp của nội lực và ngoại lực ở các nơi trên Trái Đất cũng khác nhau. Ví dụ: nơi sông ngòi bồi tụ phù sa lớn trên một vùng sụt võng tạo thành đồng bằng châu thổ, các đứt gãy tuy được bồi lắng trầm tích nhưng vẫn tạo thành các dòng sông lớn, các hồ sâu...
Câu 6. Phân biệt uốn nếp và đứt gãy.
Hướng dẫn:
- Uốn nếp và đứt gãy đều là hoạt động của nội lực, được sinh ra do tác động của những lực bên trong lòng Trái Đất.
+ Uốn nếp: Xuất hiện ở những khu vực vỏ Trái Đất cấu tạo bởi các đá mềm, khi bị nén ép sẽ hình thành các nếp uốn. Nếu cường độ nén ép mạnh sẽ hình thành các vùng núi uốn nếp (hệ thống núi Himalaya, dãy núi AnĐét,...).
+ Đứt gãy: Xuất hiện tại những khu vực cấu tạo bởi đá cứng, các vận động kiến tạo làm các lớp đá của vỏ Trái Đất bị nứt vỡ, hình thành các vết nứt hoặc đứt gãy kéo dài. Hai bên đứt gãy, các bộ phận của vỏ Trái Đất có thể nâng cao (tạo thành dãy núi, khối núi) hoặc hạ thấp (tạo thành thung lũng); dọc theo đứt gãy có thể hình thành biển hoặc các hồ tự nhiên (Biển Đỏ và các hồ ở khu vực phía đông lục địa Phi).
Câu 7. Phân biệt núi lửa và động đất. Hướng dẫn:
- Núi lửa là núi có dạng hình nón, đỉnh có miệng trũng, ở đó thường xuyên hoặc định kì phun ra các chất khí, hơi nước, đá tảng, tro hoặc dung nham nóng chảy.
- Động đất là hiện tượng chấn động ở một bộ phận nào đó của lớp vỏ Trái Đất.
- Núi lửa và động đất đều là các hoạt động của nội lực, thường phân bố ở những vùng tiếp xúc của các mảng kiến tạo, là những nơi có hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh.
Câu 8. Quá trình phong hoá là gì? Phân biệt các quá trình phong hoá lí học, hoá học, sinh học.
Hướng dẫn:
a) Quá trình phong hóa: Là quá trình phá huỷ, làm thay đổi các loại đá và khoáng vật dưới tác động của nhiệt độ, nước, oxi, cacbonic, các loại axít có trong thiên nhiên và sinh vật. Cường độ phong hóa xảy ra mạnh nhất ở bề mặt Trái Đất.
b) Phân biệt các quá trình phong hóa
- Phong hóa lí học
+ Là sự phá hủy đá thành các khối vụn có kích thước to, nhỏ khác nhau mà không làm thay đổi màu sắc, thành phần khoáng vật và hoá học của chúng.
+ Quá trình phong hoá xảy ra chủ yếu do sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ, sự đóng băng của nước... + Thường xảy ra ở các hoang mạc, ôn đới lạnh,...
+ Kết quả của phong hóa lí học: Đá bị rạn nứt, vỡ thành những tảng và mảnh vụn.
- Phong hóa hóa học
+ Là quá trình phá huỷ, chủ yếu làm biến đổi thành phần, tính chất hoá học của đá và khoáng vật.
+ Tác nhân chủ yếu là nước và các hợp chất hoà tan trong nước, khí cacbonic, oxi, axit hữu cơ của sinh vật thông qua các phản ứng hoá học.
+ Thường xảy ra ở miền khí hậu xích đạo nóng ẩm và khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ướt...
+ Kết quả của phong hóa hóa học: Địa hình cacxtơ.
- Phong hóa sinh học
+ Là sự phá huỷ đá và các khoáng vật dưới tác động của sinh vật.
+ Tác động do sinh vật (các vi khuẩn, nấm, rễ cây,...).
+Xảy ra ở những nơi có sinh vật phát triển, nhất là thực vật và vi sinh vật.
+ Kết quả: Đá và khoáng vật vừa bị phá huỷ cơ giới, vừa bị phá huỷ về mặt hoá học.
Câu 9. Tại sao các hang động cacxtơ và các đồng bằng phù sa châu thổ thường có ở miền khí hậu xích đạo nóng ẩm và khí hậu gió mùa ẩm ướt, địa hình các hoang mạc phổ biến ở nơi có khí hậu khô và khí hậu lạnh?
Hướng dẫn:
- Hang động cacxtơ là dạng địa hình được hình thành do quá trình phong hoá hoá học. Nước mưa kết hợp với đá vôi (cacbonat canxi) tạo thành muối tan, bào mòn các khe nứt qua hàng triệu triệu năm để hình thành hang động. Quá trình phong hoá hoá học diễn ra rất mạnh mẽ trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của xích đạo và nhiệt đới ẩm.
- Đồng bằng phù sa châu thổ được hình thành do kết quả của quá trình xâm thực, bào mòn, vận chuyển, bồi tụ vật chất. Các vật chất bị bảo mòn, được vận chuyển và bồi tụ vào những vùng thấp để hình thành nên đồng bằng châu thổ. Quá trình này xảy ra thuận lợi trong điều kiện khí hậu có mưa nhiều, nóng ẩm của xích đạo và nhiệt đới ẩm.
- Địa hình hoang mạc được hình thành chủ yếu do phong hoá vật lí. Ở hoang mạc nơi khó hạn như hoàng mạc có sự thay đổi nhiệt độ tương đối đột ngột giữa ngày và đêm. Nơi có khí hậu lạnh, thường có đóng băng của nước; khi đóng băng, thể tích của nước tăng lên, làm giãn các khe nứt; khi tan băng, khe nứt hẹp lại, tạo ra sự nứt vỡ nhiều hơn.
Câu 10. Tại sao ở những nơi có biên độ nhiệt độ lớn, nơi có sự đóng băng của nước; hoạt động mạnh của gió, sóng biển, nước chảy thì đá bị rạn nứt, vỡ thành những tảng và mảnh vụn? Hướng dẫn:
- Nơi có biên độ nhiệt độ lớn: Sự thay đổi nhiệt độ giữa các mùa trong năm, giữa ngày và đêm làm cho các khoáng vật tạo đá bị giãn nở khi nhiệt độ tăng lên và co lại khi nhiệt độ giảm xuống. Các lớp đá ở các độ sâu khác nhau có nhiệt độ khác nhau, giãn nở khác nhau làm cho độ liên kết giữa các lớp đá bị phá huỷ dần rồi bị vỡ thành nhiều mảnh vụn.
- Sự đóng băng của nước: Trong đá, bao giờ cũng có ít nhiều lỗ hổng và khe nứt, nơi có thể lưu giữ nước và hơi nước. Khi nhiệt độ hạ thấp tới 0°C, nước trong khe nứt hoá băng, đồng thời thể tích của nó tăng lên, tác động lên thành khe nứt những áp lực rất lớn. Cứ sau mỗi lần nước trong khe nứt hoá băng, bản thân khe nứt bị giãn rộng ra thêm một chút. Hiện tượng hoá băng - tan băng xảy ra nhiều lần, khối đá sẽ bị vỡ thành những tảng và mảnh vụn.
- Gió, sóng, nước chảy: Tác động ma sát hoặc va đập của gió, sóng, nước chảy... làm phá vỡ các đá.
Câu 11. Các quá trình bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ khác nhau và có quan hệ với nhau như thế nào? Hướng dẫn:
a) Sự khác nhau
- Bóc mòn
+ Là quá trình các tác nhân ngoại lực làm dời chuyển các sản phẩm phong hóa khỏi vị trí ban đầu của nó. + Quá trình bóc mòn có các tên gọi khác nhau tùy theo nhân tố tác động. Ví dụ: xâm thực là quá trình bóc mòn do nước chảy, mài mòn là quá trình bóc mòn do nước biển, thổi mòn là quá trình bóc mòn do gió,....
+ Kết quả: Tạo nên một số dạng địa hình như khe rãnh xói mòn (do dòng chảy tạm thời tạo thành), nấm đá (do tác dụng thổi mòn và mài mòn của gió), phi-o (được tạo thành do tác động của băng hà), hàm ếch ven biển (do sóng biển bóc mòn)...
- Vận chuyển:
+ Là quá trình di chuyển vật liệu từ nơi này đến nơi khác.
+ Hình thức vận chuyển: Vật liệu nhỏ nhẹ được động năng của các ngoại lực cuốn theo. Vật liệu lớn, nặng còn chịu thêm tác động của trọng lực làm cho vật liệu lăn trên mặt đất dốc.
+ Kết quả: Vật liệu thay đổi vị trí ban đầu.
- Bồi tụ:
+ Là quá trình tích tụ (tích lũy) các vật liệu phá hủy.
+ Quá trình bồi tụ diễn ra phức tạp, phụ thuộc vào động năng của các nhân tố ngoại lực (khi động năng giảm dần thì các vật liệu sẽ tích tụ dần trên đường di chuyển của chúng theo thứ tự kích thước và trọng lượng giảm. Nếu động năng giảm đột ngột thì tất cả các loại vật liệu đều tích tụ và phân lớp theo trọng lượng).
+ Kết quả: Các dạng địa hình bồi tụ (nón phóng vật, bãi bồi và đồng bằng châu thổ, đồng bằng băng tích, cồn cát, đụn cát ở bờ biển, bãi biển,...)
b) Mối quan hệ giữa bốc mòn, vận chuyển và bồi tụ
- Bốc mòn tạo ra các vật liệu phá hủy cho quá trình vận chuyển. - Vận chuyển là sự tiếp nối của quá trình bóc mòn.
Bồi tự là sự kết thúc quá trình vận chuyển đồng thời là quá trình tích tụ các vật liệu phá hủy. Câu 12. Địa hình trên bề mặt Trái Đất chịu tác động của các nhân tố ngoại lực như thế nào?
Hướng dẫn:
Tác động của nước trên bề mặt địa hình: Thể hiện ở cả ba quá trình: xâm thực, vận chuyển vật liệu xâm thục và bồi tụ tạo thành địa hình dòng chảy.
+ Xâm thực: Do nước chảy diễn ra theo chiều sâu, với tốc độ nhanh, tạo thành các dạng địa hình như: khe rãnh, thung lũng sông,...
+ Vận chuyển: Quá trình di chuyển vật liệu từ nơi này đến nơi khác.
+ Bồi tụ: Quá trình tích tụ các vật liệu phá huỷ (còn gọi là quá trình lắng đọng vật chất, quá trình trầm tích), tạo thành các dạng địa hình: bãi bồi, đồng bằng phù sa sông, tam giác châu,...
- Tác động của gió:
+ Gió tạo thành các dạng địa hình mài mòn, thổi mòn, gọi là địa hình xâm thực do gió. Ví dụ: hố trũng thổi mòn, bề mặt cát tổ ong, khối đá sót hình nấm,...
+ Gió cũng tạo nên các dạng địa hình bồi tụ như cồn cát, đụn cát ở bờ biển.
- Tác động của băng hà: Khi di chuyển, băng hà mang theo những vật liệu vụn (đá, cát, sỏi...) gọi là băng tích di động. Khi băng hà tan, xảy ra hiện tượng trầm lắng băng tích, tạo nên một lớp phủ băng tích, chỗ thì bằng phẳng, chỗ thì lượn sóng lồi lõm. Các địa hình băng hà có thể kể đến như đồng bằng băng hà, hồ băng hà, phi-o,...
- Tác động của sóng:
+ Đập vào bờ biển, tạo nên các dạng địa hình mài mòn ở bờ biển như: hàm ếch sóng vỗ, vách biển, nền mài mòn,.
+ Vận chuyển vật liệu và bồi tụ tạo thành các dạng địa hình bồi tụ như bãi biển, thềm bồi tụ, doi đất, cồn ngầm dưới nước biển,...
Câu 13. Tại sao các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ thường phân bố tập trung ở những vùng tiếp giáp của các mảng kiến tạo?
Hướng dẫn:
- Các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ thường phân bố ở những vùng tiếp giáp của các mảng kiến tạo, là những nơi có hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh.
- Khi hai mảng kiến tạo xô vào nhau, ở chỗ tiếp xúc của chúng, đá sẽ bị nén ép, dồn lại và nhô lên, hình thành các dãy núi cao sinh ra động đất, núi lửa,... (ví dụ, dãy Hi-ma-lay-a được hình thành do mảng Ấn Độ - Ô-xtrây-li-a xô vào mảng Âu - Á).
- Khi hai mảng tách xa nhau, ở các vết nứt tách giãn, macma sẽ trào lên, tạo nên các dãy núi ngầm, kèm theo hiện tượng động đất hoặc núi lửa (Ví dụ: Sống núi ngầm giữa Đại Tây Dương).
Câu 14. Những vực biển sâu trên đại dương thế giới thường phân bố ở những khu vực nào? Tại sao?
Hướng dẫn:
- Các khu vực biển sâu trên thế giới đều phân bố ở các đới hút chìm, nơi các mảng kiến tạo xô vào nhau. Ví dụ: Vực biển Marian, Giava, Alêut, Pêru - Chilê, Kecmadec.
- Khi hai mảng kiến tạo xô vào nhau (mảng đại dương và mảng lục địa) sẽ tạo ra các dãy núi cao ở rìa lục địa, các chuỗi hoặc vòng cung đảo và các vực biển. Hai mảng xô vào nhau là các mảng lớn thì vực biển càng sâu.
Câu 15. Phân tích mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình hình thành địa hình bề mặt Trái Đất. (Câu hỏi đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2016)
Hướng dẫn:
- Địa hình bề mặt Trái Đất được phát sinh và phát triển do kết quả của tác động đồng thời và tương hỗ
giữa quá trình nội lực và ngoại lực.
- Nội lực và ngoại lực xảy ra đồng thời, liên tục và có tính đối nghịch nhau: nội lực tạo ra sự gồ ghề, ngoại lực có xu hướng san bằng bề mặt địa hình.
- Tương quan giữa quá trình nội lực và ngoại lực là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện dạng địa hình này
hay dạng địa hình khác. Ở mỗi dạng địa hình cụ thể, vai trò của nội lực và ngoại lực là khác nhau.
Câu 16. Các lớp đá bị đứt gãy trong điều kiện vận động kiến tạo theo phương
A. ngang ở vùng đá cứng.
C. đứng ở vùng đá mềm.
B. ngang ở vùng đá mềm.
D. đứng ở vùng đá cứng.
Câu 17. Núi lửa và động đất tập trung nhiều nhất ở nơi nào sau đây?
A. Đông và Đông Nam châu Á.
C. Phía tây Bắc Mĩ và Nam Mĩ.
B. Nam Á và Tây Nam châu Á.
D. Phía đông châu Á và Bắc Phi.
Câu 18. Cường độ phong hoá xảy ra mạnh nhất ở nơi có
A. các địa hình núi cao và nhiều sông suối.
B. sự thay đổi lớn nhiệt độ, nước, sinh vật.
C. nhiều đồng bằng rộng và đất đai màu mỡ.
D. sự biến động của sinh vật và con người.
Câu 19. Nguyên nhân nào sau đây làm cho phong hoá lí học xảy ra mạnh ở miền khí hậu lạnh?
A. Nhiệt độ trung bình năm thấp.
B. Biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn.
C. Lượng mưa trung bình năm nhỏ.
D. Nước thường hay bị đóng băng.
ĐÁP ÁN TRẮC NGHIỆM
16-A; 17-A; 18-B; 19-D
20. Phân biệt thạch quyển với vỏ Trái Đất.
Hướ ng dẫn:
- Thạch quyển: Là phần cứng ngoài cùng của Trái Đất, bao gồm vỏ Trái Đất và phần trên cùng lớp Manti, có độ dày tới 100 km.
- Lớp vỏ Trái Đất: Là phần ngoài cùng của Trái Đất, cấu tạo chủ yếu bằng những vật chất cứng rắn (đá mácma, trầm tích và biến chất), độ dày trung bình dao động từ 5 km (ở đại dương) đến 70km (ở lục địa).
21. Tại sao nói lớp Manti có ý nghĩa lớn đối với lớp vỏ Trái Đất?
Hướ ng dẫn:
- Lớp Manti:
+ Nằm dưới lớp vỏ Trái Đất cho tới độ sâu 2900 km, gồm hai tầng chính: Manti trên và Manti dưới.
+ Vật chất của bao Manti trên có trạng thái quánh dẻo, không chảy lỏng được nhưng vẫn có thể chuyển động thành dòng đối lưu. Manti dưới rắn.
+ Các dòng đối lưu trong lớp quánh dẻo đó (được gọi là quyển mềm của bao Manti) được hình thành chủ yếu do sự chuyển dịch, sắp xếp lại vật chất trong lòng Trái Đất. Các vật chất nhẹ đi lên vỏ Trái Đất, vật chất nặng chìm xuống sâu.
- Lớp Manti có ý nghĩa lớn đối với lớp vỏ Trái Đất
+ Đây là nơi tích tụ và tiêu hao nguồn năng lượng bên trong, sinh ra các hoạt động kiến tạo làm thay đổi cấu trúc bề mặt Trái Đất như hình thành những dạng địa hình khác nhau, các hiện tượng động đất, núi lửa..
+ Các mảng kiến tạo lớn của Trái Đất di chuyển trên quyển mềm của bao Manti do nguyên nhân chủ yếu là các dòng đối lưu trong lớp quánh dẻo đó. Các dòng đổi lưu đi lên đã tạo ra các sống núi đại dương và đây cũng chính là những dải dứt gãy ở chỗ tiếp xúc của các mảng kiến tạo. Các dòng đối lưu khi rẽ ngang sang hai bên đã gây ra hiện tượng tách dẫn đáy đại dương và làm cho các mảng kiến tạo dịch chuyển,
22. Nội lực là gì? Nguyên nhân sinh ra nội lực?
Hướ ng dẫn:
- Nội lực là lực phát sinh từ bên trong Trái Đất.
- Nguyên nhân sinh ra nội lực chủ yếu là các nguồn năng lượng ở trong lòng Trái Đất như năng lượng của sự phân hủy các chất phóng xạ, sự dịch chuyển của các dòng vật chất theo quy luật của trọng lực, năng lượng của các phản ứng hoá học...
23. Các vận động kiến tạo tác động như thế nào đến địa hình bề mặt Trái Đất?
Hướ ng dẫn:
Vận động kiến tạo theo phương nằm ngang làm cho vỏ Trái Đất bị nén ép ở khu vực này và tách
giãn ở khu vực kia, gây ra các hiện tượng uốn nếp, dứt gãy.
+ Hiện tượng uốn nếp: Vận động theo phương nằm ngang làm biến đổi thế nằm ban đầu của đá,
khiến chúng bị xô ép, uốn cong thành các nếp uốn, đặc biệt nơi có độ dẻo cao, rõ rệt nhất là các đá
trầm tích. Khi cường độ nén ép tăng mạnh trong toàn bộ khu vực sẽ hình thành các dãy uốn nếp.
Các lớp đá uốn thành nếp, nhưng tính chất liên tục của chúng không bị phá vỡ. Kết quả của hiện
tượng uốn nếp là miền núi uốn nếp.
+ Hiện tượng đứt gãy: Vận động theo phương nằm ngang xảy ra ở những vùng đá cứng làm cho
lớp đá bị gãy, đứt ra rồi chuyển dịch ngược hướng nhau theo phương gần thẳng đứng hay nằm
ngang tạo ra các hẻm vực, thung lũng,
24. Sự dịch chuyển của các mảng kiến tạo có mối quan hệ như thế nào với việc hình thành các nếp uốn và đứt gãy
Hướ ng dẫn:
Khi hai mảng kiến tạo dịch chuyển sẽ dẫn tới hiện tượng va chạm nhau, do đó mà hình thành nên các nếp uốn và đứt gãy. Nếu hai mảng kiến tạo va chạm nhau (do di chuyển ngược chiều nhau) sẽ có một mảng luồn xuống dưới và mảng kia chờm lên trên. Mảng chờm lên do lực cân bằng đẳng tĩnh nên được dâng cao và các đá bị uốn nếp, đứt gãy.
25. Tại sao có miền núi uốn nếp, địa luỹ, địa hào?
Hướ ng dẫn:
- Vận động theo phương nằm ngang làm cho vỏ Trái Đất bị nén ép ở khu vực này và tách giãn ở khu vực kia, làm biến đổi thế nằm ban đầu của đá, gây ra hiện tượng uốn nếp, đứt gãy.
- Ở khu vực nén ép, cường độ nén ép ban đầu còn yếu chỉ làm cho các đá thay đổi thế nằm đầu tiên thành các nếp uốn. Về sau, cường độ nén ép tăng mạnh đưa toàn bộ khu vực nén dâng cao.
Dưới tác dụng của các quá trình ngoại lực, bề mặt địa hình bị cắt xẻ trở thành miền núi uốn nếp.
- Ở khu vực tách giãn, khi cường độ còn yêu các đá chỉ bị nứt nẻ, sau đó cường độ tách giãn mạnh dần lên, các đá bị gãy, đứt ra rồi di chuyển ngược hướng nhau theo phương gần thẳng đứng hoặc nằm ngang. Sự dịch chuyển với biên độ lớn sẽ làm cho các lớp đá có bộ phận trổi lên, có bộ phận sụt xuống, sinh ra các địa luỹ, địa hảo.
26. Tại sao có núi lửa, động đất?
Hướ ng dẫn:
- Núi lửa là núi có dạng hình nón, đỉnh có miệng trũng, ở đó thường xuyên hoặc định kì phun ra các chất khí, hơi nước, đá tảng, tro hoặc dung nham nóng chảy. Động đất là hiện tượng chấn động ở một bộ phận nào đó của lớp vỏ Trái Đất.
- Núi lửa và động đất thường phân bố ở những vùng tiếp xúc của các mảng kiến tạo, là những nơi có hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh.
27. Tại sao cần phải quan tâm nghiên cứu đến đứt gãy trong việc tìm kiếm khoáng sản và xây dựng các công trình?
Hướng dẫn
- Đứt gãy là vận động kiến tạo xảy ra ở những vùng đá cứng làm cho các lớp đã bị gãy, tạo ra các đứt gãy như các khe nứt, đoạn tầng, địa hảo, địa luỹ, đứt gãy sâu...
- Đứt gãy sâu có đặc điểm là chiều dài rất lớn, phát triển rất sâu trong lòng đất và quá trình phát triển rất lâu dài... Theo các đứt gãy đã xảy ra hiện tượng chuyển dịch các mảng lục địa trườn lên các mảng đại dương hoặc các mảng đại dương bị chìm xuống…
-Khai thác khoáng sản: Giúp dễ dàng trong việc phát hiện và khai thác.
- Xây dựng: Xác định độ bền của móng, xác định khả năng quy hoạch khu đô thị (đồng bằng) hay khu vực thị trấn, bản (vùng núi).
28. Giải thích tại sao trên Trái Đất có các hiện tượng uốn nếp, đứt gãy; hiện tượng các dạng địa hình bị biến đổi.
Hướ ng dẫn:
Các hiện tượng trên xảy ra do tác động của nội lực và ngoại lực.
- Nội lực:
+ Nội lực là lực được sinh ra ở bên trong Trái Đất. Nguyên nhân chủ yếu của nội lực là do các nguồn năng lượng trong lòng Trái Đất, như: Năng lượng của sự phân hủy các chất phóng xạ, sự chuyển dịch và sắp xếp lại vật chất cấu tạo Trái Đất theo trọng lực, sự ma sát vật chất... Nội lực tác động đến địa hình bề mặt Trái Đất thông qua các vận động kiến tạo, các hoạt động động đất, núi lửa...
+ Vận động kiến tạo là vận động do nội lực sinh ra, làm cho địa hình bề mặt Trái Đất có những biến đổi lớn. Vận động theo phương nằm ngang làm cho vỏ Trái Đất bị nén ép ở khu vực này và tách dãn ở khu vực kia gây ra các hiện tượng uốn nếp, đứt gãy.
- Ngoại lực: Là những lực được sinh ra ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất như các nguồn năng lượng của gió, mưa, băng, nước chảy, sóng biển... Nguyên nhân chủ yếu của ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ của Mặt Trời. Tác động của ngoại lực xảy ra trên bề mặt Trái Đất, thể hiện ở các quá trình khác nhau, như: phong hóa, bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ. Xu hướng nói chung của ngoại lực là làm cho các dạng địa hình bị biến đổi. Chúng phá vỡ, san bằng địa hình do nội lực tạo nên, đồng thời cũng tạo ra những dạng địa hình mới. và các vùng núi trẻ trên Trái Đất có đặc điểm như thế nào?
29. Sự phân bố các vành đai động đất chính, các vành đai núi lửa tập trung và các vùng núi trẻ trên Trái Đất có đặc điểm ntn?
Hướ ng dẫn:
- Các vành đai núi lửa, động đất và các vùng núi trẻ thường phân bố ở những vùng tiếp giáp của các mảng kiến tạo, là những nơi có hoạt động kiển tạo xảy ra mạnh.
- Khi hai mảng kiến tạo xô vào nhau, ở chỗ tiếp xúc của chúng, đá sẽ bị nén ép,dồn lại và nhô lên, hình thành các dãy núi cao sinh ra động đất, núi lửa... (ví dụ, dãy Hi-ma-lay-a được hình thành do mảng Ấn Độ - Ô-xtrây-li-a xô vào mảng Âu - Á).
- Khi hai mảng tách xa nhau, ở các vết nứt tách giãn, macma sẽ trào lên, tạo nên các dãy núi ngầm, kèm theo hiện tượng động đất hoặc núi lửa (ví dụ, sống núi ngầm giữa Đại Tây Dương).
2. NGOẠI LỰC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI LỰC ĐẾN ĐỊA HÌNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT
I. NỘI DUNG
1. Khái niệm và nguyên nhân
- Ngoại lực là lực được sinh ra từ các quá trình xảy ra bên trên bề mặt Trái Đất. Năng lượng bức
xạ Mặt Trời là nguyên nhân chủ yếu của ngoại lực. Các yếu tố của khí hậu, thủy văn, sinh vật là
những nhân tố tác động của ngoại lực.
- Năng lượng bức xạ mặt trời là nguyên nhân chủ yếu của ngoại lực. Các yếu tố của khí hậu, thuỷ
văn và sinh vật là những nhân tố tác động của ngoại lực.
2. Tác động của ngoại lực đến địa hình
- Quá trình phong hoá
+ Phong hóa lí học: Là quá trình phá hủy, làm các đá bị vỡ vụn nhưng không bị thay đổi thành
phần và tính chất. Phong hóa lí học thường xảy ra mạnh ở những nơi nhiệt độ có sự dao động lớn
theo ngày - đêm. Sự dao động nhiệt cũng có thể làm khối đá bị tách vỡ do nước trong các khe nứt
bị đóng băng vào ban đêm hoặc mùa đông.
+ Phong hóa hóa học: Là quá trình phá hủy, làm biến đổi thành phần, tính chất của đá do tác động
của nước, nhiệt độ, các chất hòa tan trong nước (khí ô-xi, khí cac-bo-nic, các axít hữu cơ và vô
cơ...) và sinh vật. Phong hóa hóa học thưởng tạo nên những dạng địa hình cac-xtơ.
+ Phong hóa sinh học: Là quá trình phá hủy đá của sinh vật (thực vật, nấm, vi khuẩn...), làm các
đá bị phá hủy cả về lí học và hóa học. Ví dụ: sự tăng trưởng của rễ cây làm đá bị nứt vỡ, các chất
hữu cơ từ hoạt động sống của sinh vật có thể làm các đá bị biến đổi về thành phần, tính chất...
- Quá trình bóc mòn:
+ Là quá trình các nhân tố ngoại lực (nước chảy, gió, sóng biển, băng hà...) làm rời chuyển các
sản phẩm đã bị phong hóa ra khỏi vị trí ban đầu.
+ Quá trình bóc mòn do dòng nước gọi là xâm thực. Quá trình bóc mòn do gió gọi là thổi mòn hay
khoét mòn (tạo ra nấm đá, rãnh thổi mòn, hoang mạc đá...). Quá trình bóc mòn do sóng biển gọi là
mài mòn (tạo dạng địa hình hàm ếch ở bờ biển). Quá trình bóc mòn do băng hà tạo các dạng địa
hình xâm thực (như mảng băng, phio, đá lưng cừu...),
- Quá trình vận chuyển và bồi tụ
+ Vận chuyển: Làm di chuyển theo các nhân tố ngoại lực.
+ Bồi tụ: Tạo nên các dạng địa hình như: nón phóng vật (do dòng tạm thời), bãi bồi và đồng bằng
châu thổ (do dòng thường xuyên), đồng băng băng thủy (do nước băng tan),...
II, CÂU HỎI, BÀI TẬP
1. Ngoại lục là gì? Trình bày nguyên nhân sinh ra ngoại lực và các biểu hiện?
Hướ ng dẫn:
- Ngoại lực là lực có nguồn gốc ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất
- Nguồn năng lượng sinh ra ngoại lực chủ yếu là nguồn năng lượng của bức xạ mặt trời.
- Ngoại lực gồm tác động của các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, gió, mưa...), các dạng nước (nước
chảy, nước ngầm, bằng hà, sóng biển...), sinh vật (động, thực vật) và con người.
2. Tại sao nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ của Mặt Trời?
Hướng dẫn:
Vì dưới tác dụng nhiệt của Mặt Trời, đá trên bề mặt thạch quyền bị phá huỷ và năng lượng của
các tác nhân ngoại lực (nước chảy, gió, băng tuyết...) trực tiếp hay gián tiếp đều có liên quan đến
bức xạ mặt trời.
3. Các nhân tố ngoại lực đã có tác động như thế nào đến địa hình trên bề mặt Trái Đất?
Hướ ng dẫn:
- Tác động của nước trên bề mặt địa hình: Thể hiện ở cả ba quá trình: xâm thực, vận chuyển vật
liệu xâm thực và bồi tụ tạo thành địa hình dòng chảy.
+ Xâm thực: Do nước chảy diễn ra theo chiều sâu, với tốc độ nhanh, tạo thành các dạng địa hình
như: khe rãnh, thung lũng sông...
+ Vận chuyển: Quá trình di chuyển vật liệu từ nơi này đến nơi khác.
+ Bồi tụ: Quá trình tích tụ các vật liệu phá huỷ (còn gọi là quá trình lắng đọng vật chất, quá trình
trầm tích), tạo thành các dạng địa hình: bãi bồi, đồng bằng phù sa sông, tam giác châu...
- Tác động của gió:
+ Gió tạo thành các dạng địa hình mài mòn, thổi mòn, gọi là địa hình xâm thực do gió. Ví dụ: Hố
trũng thổi mòn, bề mặt cát tổ ong, khối đá sót hình nấm...
+ Gió cũng tạo nên các dạng địa hình bồi tụ như cồn cát, đụn cát ở bờ biển.
- Tác động của băng hà: Khi di chuyển, băng hà mang theo những vật liệu vụn (đá, cát, sỏi...) gọi
là băng tích di động. Khi băng hà tan, xảy ra hiện tượng trầm băng tích, tạo nên một lớp phủ băng
tích, chỗ thì bằng phẳng chỗ thì lượn sóng lồi lõm. Các địa hình băng hà có thể kể đến như đồng
bằng , băng hà, hồ băng hả, phi-o...
- Tác động của sóng:
+ Đập vào bờ biển, tạo nên các dạng địa hình mài mòn ở bờ biển như: hàm ếch sóng vỗ, vách
biển, nền mài mòn...
+ Vận chuyển vật liệu và bồi tụ tạo thành các dạng địa hình bồi tụ như bãi biển, thềm bổi tụ, doi
đất, cổn ngầm dưới nước biển...
4. Quá trình phong hoá là gì? Tại sao quá trình phong hóa lại xảy ra mạnh nhất ở bề mặt Trái Đất?
Hướ ng dẫn:
- Quá trình phong hóa là quá trình phá huỷ, làm thay đổi các loại đá và khoáng vật dưới tác động
của nhiệt độ, nước, ôxi, cácbônic, các loại axít có trong thiên nhiên và sinh vật. Cường độ phong
hóa xảy ra mạnh nhất ở bề mặt Trái Đất.
- Quá trình phong hóa lại xảy ra mạnh nhất ở bề mặt Trái Đất, vì ở trên bề mặt Trái Đất, đá trực
tiếp nhận được năng lượng của bức xạ mặt trời và là nơi tiếp xúc trực tiếp với khí quyển, thủy
quyển và sinh quyển.
5. Phân biệt các quá trình phong hoả lí học, hoá học, sinh học.
Hướ ng dẫn:
a) Quá trình phong hóa: Là quá trình phá huỷ, làm thay đổi các loại đá và khoáng vật dưới tác
động của nhiệt độ, nước, ôxi, cácbônic, các loại axít có trong thiên nhiên và sinh vật. Cường độ
phong hóa xảy ra mạnh nhất ở bề mặt Trái Đất.
b) Phân biệt các quá trình phong hoá
− Phong hóa lí học
+ Phong hóa lí học là sự phá hủy đá thành các khối vụn có kích thước to, nhỏ khác nhau mà không
làm thay đổi màu sắc, thành phần khoáng vật và hoá học của chúng.
+ Quá trình phong hoá xảy ra chủ yếu do sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ, sự đóng băng của
nước...
+ Thường xảy ra ở các hoang mạc, ôn đới lạnh...
+ Kết quả của phong hóa lí học: Đá bị rạn nứt, vỡ thành những tảng và mảnh vụn.
- Phong hóa hóa học
+ Phong hóa hóa học là quá trình phá huỷ, chủ yếu làm biến đổi thành phần, tính chất hoá học của
đá và khoáng vật.
+ Tác nhân chủ yếu là nước và các hợp chất hoà tan trong nước, khi cacbonic, ôxi, axit hữu cơ của
sinh vật thông qua các phản ứng hoá học.
+ Thường xảy ra ở miền khí hậu xích đạo nóng ẩm và khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ướt...
+Kết quả của phong hóa hóa học: Địa hình cacxtơ.
- Phong hóa sinh học
+ Phong hóa sinh học là sự phá huỷ đá và các khoáng vật dưới tác động của sinh vật như các vi
khuẩn, nấm, rễ cây....
+ Tác động do sinh vật (các vi khuẩn, nấm, rễ cây...).
+ Xảy ra ở những nơi có sinh vật phát triển, nhất là thực vật và vi sinh vật,
+ Kết quả: Đá và khoảng vật vừa bị phá huỷ cơ giới, vừa bị phá huỷ về mặt hoá học.
6. Vì sao phong hóa lí học lại xảy ra mạnh ở các miền khí hậu khô nóng (hoang mạc và bán hoang mạc) và miền có khí hậu lạnh?
Hướ ng dẫn:
Vì ở hoang mạc và bán hoang mạc có sự thay đổi nhiệt độ tương đối đột ngột giữa ngày và đêm.
Nơi có khí hậu lạnh, thưởng có sự đóng băng của nước; khi đóng băng, thể tích của nước tăng lên,
làm giãn các khe nứt; khi tan băng, khe nứt hẹp lại, tạo ra sự nứt vỡ nhiều hơn.
7. Tại sao kết quả của phong hoả lí học là làm cho đã bị rạn nứt, vỡ thành những tảng và mảnh vụn?
Hướng dẫn:
- Phong hoá lí học chủ yếu do sự thay đổi nhiệt độ, sự đóng băng của nước; ngoài ra, còn do tác
động của muối khoáng kết tinh, do rễ cây; do va đập của gió, sóng, nước chảy; hoạt động của con
người...
- Sự thay đổi nhiệt độ giữa các mùa trong năm, giữa ngày và đêm: Các khoảng vật tạo đá có khả
năng giãn nở khi nhiệt độ tăng lên và co lại khi nhiệt độ giảm xuống. Các lớp đá ở các độ sâu khác
nhau có nhiệt độ khác nhau, giãn nở khác nhau làm cho độ liên kết giữa các lớp đá bị phá huỷ dần
rồi bị vỡ thành nhiều mảnh vụn.
- Sự đóng băng của nước: Trong đá, bao giờ cũng có ít nhiều lỗ hồng và khe nứt, nơi có thể lưu
giữ nước và hơi nước. Khi nhiệt độ hạ thấp tới 0°C, nước trong khe nút hoá băng, đồng thời thể
tích của nó tăng lên, tác động lên thành khe nứt những áp lực rất lớn. Cứ sau mỗi lần nước trong
khe nứt hoá băng, bản thân khe nứt bị giãn rộng ra thêm một chút. Hiện tượng hoá băng - tan băng
xảy ra nhiều lần, khối đá sẽ bị vỡ thành những tảng và mảnh vụn.
- Muối khoảng kết tinh: Hiện tượng bốc hơi mạnh ở các miền khi hậu khô hạn kéo theo sự vận
chuyển nước mao dẫn lên mặt đất. Trên đường di chuyển, nước mao dẫn có thể hoà tan các loại
muối khoáng và khi nước bốc hơi, muối khoáng sẽ đọng lại. Trong quá trình muối khoáng kết
tỉnh, thành mạch mao dẫn cũng phải chịu áp lực lớn, khiến cho bề mặt nham thạch bị rạn nứt và
vỡ vụn.
- Rễ cây sinh vật: Rễ cây cắm sâu vào khe nứt, lớn dần lên và cũng làm cho làm đá bị biến đổi về
thành phần, tính chất, khe nứt này ngày càng mở rộng, các chất hữu cơ từ hoạt động của sinh vật
có thể chảy... cũng làm phá vỡ các đá.
- Gió, sóng, nước chảy: Tác động ma sát hoặc va đập của gió, sóng, nước
8. Tại sao ở các miền địa cực (lạnh khô) và hoang mạc, bản hoang mạc có phong hoá lí học thể hiện rõ nhất; còn các miền nhiệt đới ẩm, cận xích đạo,phong hoá hoá học lại diễn ra mạnh hơn?
Hướ ng dẫn:
Ở hoang mạc, bán hoang mạc (khí hậu khô):
+ Dao động của nhiệt độ giữa các mùa trong năm, giữa ngày và đêm tương đối lớn làm cho phong
hoá nhiệt diễn ra mạnh. Các khoáng vật tạo đá có khả năng dãn nở khi nhiệt độ tăng lên và co lại
khi nhiệt độ hạ xuống; các lớp đá ở những độ sâu khác nhau có nhiệt độ khác nhau, do đó bị giãn
nở khác nhau, khiến cho liên kết giữa các lớp đá bị phá huỷ dần rồi bị vỡ ra thành nhiều mảnh
vụn.
+ Do bốc hơi rất mạnh nên luôn xảy ra sự vận chuyển nước mao dẫn lên bề mặt đất. Trên đường
di chuyển, nước mao dẫn có thể hoà tan các loại muối khoáng và khi nước bốc hơi, muối khoáng
sẽ dọng lại. Trong suốt quá trình muối khoáng kết tỉnh, thành mao dẫn cũng phải chịu áp lực lớn,
khiến cho bề mặt nham thạch bị rạn nứt và vỡ vụn.
-Ở các miền địa cực (lạnh khô): Phong hoá do nước đóng băng. Trong đá có ít nhiều lỗ hồng và
khe nứt, nơi có thể lưu giữ nước và hơi nước. Khi nhiệt độ hạ thấp tới 0°C, nước trong khe nứt
hoá băng, đồng thời thể tích của nó tăng thêm, do đó tác động lên thành khe nứt những áp lực rất
lớn. Vì vậy, sau mỗi lần nước trong khe nút hoá băng, bản thân khe nứt lại giãn thêm một ít. Nếu
hiện tượng hoá băng - tan băng xảy ra nhiều lần, khối đá sẽ bị vỡ thành những tảng và mảnh vụn.
-Ở miền nhiệt đới ẩm, cận xích đạo (khí hậu nóng ẩm): Phong hoá hoá học diễn ra mạnh. Phong
hoá hoá học là quá trình phá huỷ đá kèm theo sự biến đổi thành phần hoá học của đá và khoáng
vật. Những tác nhân chủ yếu của phong hoá hoá học là hoạt động hoá học của nước, của một số
hợp phần không khí như oxi, khí cacbonic và tác dụng hoá sinh của sinh vật.
Sở dĩ nước tự nhiên có khả năng hoạt động hoá học là vì nó có một bộ phận phân li thành các ion
H+ và OH−, đặc biệt khi trong nước có CO2 hoà tan thì khả năng hoạt động hoá học của nó càng
rõ rệt. Khi nhiệt độ tăng trong chừng mực thích hợp, khả năng hoạt động hoá học của nước cũng
tăng lên. Do đó, tại các vùng nóng ẩm, tác dụng phong hoá của nước thể hiện mạnh hơn; còn ở
các vùng khí hậu lạnh, khả năng ấy kém dần; khi nhiệt độ hạ xuống dưới 0°C thì hầu như không
còn nữa.
9. Tại sao phong hoá li học xảy ra mạnh ở các miền khí hậu khô nóng(hoang mạc và bán hoang mạc) và miền có khí hậu lạnh, còn phong hoá hoa học xảy ra mạnh ở những miền nóng ẩm?
Hướng dẫn:
- Phong hoá lí học chủ yếu do sự thay đổi nhiệt độ, sự đóng băng của nước.
+ Ở các miền khí hậu khô nóng (hoang mạc và bán hoang mạc), nhiệt độ có sự biến động lớn giữa
ngày và đêm, đá liên tục được giãn nở và co lại, phong hoá li học diễn ra mạnh.
+ Ở miền có khí hậu lạnh, nước trong các khe nứt và lỗ hông của đá đóng băng, tạo nên áp lực lên
thành khe nứt, làm mở rộng thêm khe nứt.
Phong hoá hoá học chủ yếu do nước và các hợp chất hoà tan trong nước, khí cacbonic, oxi và axit
hữu cơ của sinh vật thông qua các phản ứng hoá học. Khi nhiệt độ tăng trong chừng mực thích
hợp, khả năng hoạt động hoá học của nước cũng tăng lên, ngược lại, nhiệt độ hạ thấp làm khả năng phong hoá hoá học giảm. Do vậy, tác dụng phong hoá của nước thể hiện mạnh hơn ở các
vùng nóng ẩm.
10. Giải thích tại sao các hang động cacxtơ và các đồng bằng phù sa châu thổ thường có ở miền khí hậu xích đạo nóng ẩm và khí hậu gió mùa ẩm ướt. xuống.
Hướ ng dẫn:
- Hang động cacxtơ là dạng địa hình được hình thành do quá trình phong hoá hoá học. Nước mưa
kết hợp với đá vôi (cacbonat canxi) tạo thành muối tan, bào mòn các khe nứt qua hàng triệu triệu
năm để hình thành hang động. Quá trình phong hoá hoá học diễn ra rất mạnh mẽ trong điều kiện
khí hậu nóng ẩm của xích đạo và nhiệt đới ẩm.
- Đồng bằng phù sa châu thổ được hình thành do kết quả của quá trình xâm thực, bảo mòn, vận
chuyển, bồi tụ vật chất. Các vật chất bị bào mòn, được vận chuyển và bồi tụ vào những vùng thấp
dể hình thành nên đồng bằng châu thổ. Quá trình này xảy ra thuận lợi trong điều kiện khí hậu có
mưa nhiều, nóng ẩm của xích đạo và nhiệt đới ẩm.
11. Phân biệt các quá trình bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ. Giữa chúng có mối quan hệ như thế nào?
Hướ ng dẫn:
- Bóc mòn
+ Là quá trình các tác nhân ngoại lực làm dời chuyển các sản phẩm phong hóa khỏi vị trí ban đầu
của nó.
+ Quá trình bóc mòn có các tên gọi khác nhau tùy theo nhân tố tác động. Ví dụ: xâm thực là quá
trình bóc mỏn do nước chảy, mài mòn là quá trình bóc mòn do nước biển, thổi mòn là quá trình
bóc mòn do gió...
+ Một số dạng địa hình do quá trình bóc mòn tạo thành: Những khe rãnh xói mòn (do dòng chảy
tạm thời tạo thành), nấm đá (do tác dụng thổi mòn và mài mòn của gió), phi-o (được tạo thành do
tác động của băng hà), hàm ếch ven biển (do sóng biển bóc mỏn)...
- Vận chuyển:
+ Là quá trình di chuyển vật liệu từ nơi này đến nơi khác.
+ Hình thức vận chuyển: Vật liệu nhỏ nhẹ được động năng của các ngoại lực liệu lăn trên mặt đất
dốc. cuốn theo. Vật liệu lớn, nặng còn chịu thêm tác động của trọng lực làm cho vật
- Bồi tụ:
+ Là quá trình tích tụ (tích lũy) các vật liệu phá hủy.
+ Quá trình bồi tụ diễn ra phức tạp, phụ thuộc vào động năng của các nhân tố ngoại lực (khi động
năng giảm dần thì các vật liệu sẽ tích tụ dần trên đường di chuyển của chúng theo thứ tự kích
thước và trọng lượng giảm. Nếu động năng giảm đột ngột thì tất cả các loại vật liệu đều tích tụ và
phân lớp theo trọng lượng).
+Kết quả của quá trình bồi tụ: Các dạng địa hình bồi tụ (nón phóng vật, bãi bồi và đồng bằng châu
thổ, đồng bằng băng tích, cồn cát, đụn cát ở bờ biển, bãi biển..). B
- Mối quan hệ: dnie soub out gmidn él byl so
+ Bóc mòn tạo ra các vật liệu phá hủy cho quá trình vận chuyển.
+ Vận chuyển là sự tiếp nối của quá trình bóc mòn.
+ Bồi tụ là sự kết thúc quá trình vận chuyển và là quá trình tích tụ các vật liệu phá hủy.
12. Tại sao các địa hình dòng chảy vừa có dạng bồi tụ, vừa có dạng bào mòn?
Hướ ng dẫn:
- Địa hình do nước chảy tạo thành có tên gọi chung là địa hình dòng chảy. Trong hoạt động của
dòng chảy bao giờ cũng tồn tại hai quá trình ngược nhau là quá trình xâm thực và quá trình bồi tụ.
- Tuỳ theo tương quan giữa quá trình xâm thực và quá trình bồi tụ mà địa hình do dòng chảy tạo
thành có thể khác nhau rõ rệt:
+ Khi quá trình xâm thực, bào mỏn chiếm ưu thế, địa hình chủ yếu là bảo mòn.
+ Quá trình tích tụ phát triển (đồng bằng, cửa sông...), địa hình chủ yếu là bồi tụ.
13. Tại sao nói các dạng địa hình trên bề mặt Trái Đất là sản phẩm của sự tác động đồng thời nội lực và ngoại lực? Nội lực hay ngoại lực có vai trò quan trọng hơn trong sự hình thành địa hình trên Trái Đất?
Hướ ng dẫn:
- Nội lực và ngoại lực tác động đồng thời lên bề mặt Trái Đất. Nhìn chung, những biểu hiện của
chúng đối nghịch nhau: các quá trình nội lực có xu hướng làm cho bề mặt Trái Đất gỗ ghề hơn,
còn quá trình ngoại lực lại có xu hướng san bằng những chỗ gồ ghề đó. Tuy nhiên, chúng rất
thống nhất và luôn xen kẽ, bổ sung cho nhau để tạo ra các dạng địa hình bề mặt Trái Đất.
- Không có lực nào có vai trò quan trọng hơn trong sự hình thành địa hình trên bề mặt Trái Đất.
Tuy nhiên, đối với mỗi kiểu địa hình thì mỗi lực có vai trò chủ yếu hơn trong việc tạo thành:
+ Các quá trình nội lực chủ yếu tạo nên các địa hình kiến tạo (núi cao, vực sâu, sơn nguyên, cao
nguyên...).
+ Các quá trình ngoại lực chủ yếu tạo nên các địa hình bóc mòn - bồi tụ (vịnh và mũi đất nhô ra
biển, thung lũng sông, khe rãnh, hàm ếch sóng vỗ, cồn cát...).
14. Tại sao có các dạng địa hình trên bề mặt Trái Đất?
Hướ ng dẫn:
- Địa hình trên bề mặt Trái Đất được tạo thành do tác động đồng thời của nội lực và ngoại lực.
- Khái niệm
* Nội lực là lực được sinh ra ở bên trong Trái Đất. Nguyên nhân chủ yếu là các nguồn năng lượng trong lòng Trái Đất, như: năng lượng của sự phân huỷ các chất phóng xạ, sự chuyển dịch và sắp xếp lại vật chất cấu tạo Trái Đất theo trọng lực, sự ma sát vật chất... Nội lực làm di chuyển các mảng kiến tạo của thạch quyển, hình thành các dãy núi, tạo nên các đứt gãy, gây ra động đất, núi lửa...
+ Ngoại lực là những lực được sinh ra ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất, như: các nguồn năng lượng của gió, mưa, băng, nước chảy, sóng biển... Nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ của Mặt Trời. Xu hướng chung của ngoại lực là làm cho các dạng địa hình bị biến đổi; phá vỡ, san bằng địa hình do nội lực tạo nên, đồng thời tạo ra những dạng địa hình mới.
- Nội lực và ngoại lực có sự đối nghịch với nhau: các quá trình nội lực có xu hướng làm cho bề mặt Trái Đất gồ ghề hơn, còn quá trình ngoại lực lại có xu hướng san bằng những chỗ gồ ghề đó.
- Nội lực và ngoại lực rất thống nhất với nhau và luôn xen kẽ, bổ sung cho nhau để tạo ra các dạng địa hình bề mặt Trái Đất. Ví dụ: Ở những nơi vỏ Trái Đất hạ thấp, quá trình tích tụ phát triển, bể dày trầm tích tăng, dẫn tới vùng hạ thấp lún sâu hơn. Tại đây, nhiệt độ tăng cao, các lớp trầm tích dưới bị nóng chảy, thể tích tăng lên, nén ép các tầng trầm tích phía trên nó, làm uốn nếp rồi nâng cao bề mặt đất.
- Trong sự thống nhất đó, nội lực và ngoại lực có vai trò khác nhau trong việc hình thành các địa hình cụ thể:
+ Các quá trình nội lực chủ yếu tạo nên các địa hình kiến tạo (núi cao, vực sâu, sơn nguyên, cao nguyên...).
+ Các quá trình ngoại lực chủ yếu tạo nên các địa hình bóc mòn - bồi tụ (vịnh và mũi đất nhô ra biển, thung lũng sông, khe rãnh, hàm ếch sóng vỗ, cồn cát...).
15. Phân biệt nội lực với ngoại lực. Lực nào có vai trò lớn hơn đối với sự hình thành các dạng địa hình trên Trái Đất? Tại sao?
Hướ ng dẫn:
- Phân biệt:
+ Nội lực là lực được sinh ra ở bên trong Trái Đất. Nguyên nhân chủ yếu là các nguồn năng lượng trong lòng Trái Đất, như: năng lượng của sự phân huỷ các chất phóng xạ, sự chuyển dịch và sắp xếp lại vật chất cấu tạo Trái Đất theo trọng lực, sự ma sát vật chất... Nội lực làm di chuyển các mảng kiến tạo của thạch quyền, hình thành các dãy núi, tạo nên các đứt gãy, gây ra động đất, núi lửa...
+ Ngoại lực là những lực được sinh ra ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất, như các nguồn năng lượng của gió, mưa, băng, nước chảy, sóng biển... Nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ của Mặt Trời. Xu hướng chung của ngoại lực là làm cho các dạng địa hình bị biến đổi; phá vỡ, san bằng địa hình do nội lực tạo nên, đồng thời tạo ra những dạng địa hình
- Không có lực nào có vai trò lớn hơn đối với sự hình thành các dạng địa hình mới trên Trái Đất, vì chúng phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc hình thành địa Nội lực có xu hướng làm gồ ghề bề mặt Trái Đất, ngoại lực có xu hướng san bằng.
Tuy nhiên, đối với mỗi kiểu địa hình khác nhau, mỗi lực có vai trò khác nhau:
+ Đối với kiểu địa hình kiến tạo (các dãy núi cao, cao nguyên, bồn địa rộng lớn...): nội lực có vai trò quan trọng hơn trong quá trình hình thành.
+ Đối với kiểu địa hình bóc mòn - bồi tụ (mương xói, khe rãnh, nấm đá, hàm ếch sóng vỗ...); ngoại lực có vai trò quan trọng hơn trong quá trình hình thành.
16. Phân tích mối quan hệ của nội lực và ngoại lực trong sự hình thành địa hình bề mặt Trái Đất.
Hướng dẫn:
- Nội lực: Lực phát sinh từ bên trong Trái Đất, sinh ra chủ yếu do nguồn năng lượng ở trong lòng Trái Đất (do phân huỷ chất phóng xạ, sự dịch chuyển vật chất theo trọng lực, các phản ứng hoá học...). Tác động của nội lực thông qua các vận động kiến tạo, tạo nên địa hình trên bề mặt Trái Đất.
- Ngoại lực: Lực có nguồn gốc ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất, sinh ra chủ yếu do nguồn năng lượng của bức xạ mặt trời. Tác động của ngoại lực thông qua các quá trình ngoại lực (phong hoá, bóc mòn, vận chuyển, bồi tụ), làm biến đổi địa hình.
- Mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong việc hình thành địa hình.
+ Đối nghịch nhau: Các quá trình nội lực có xu hướng làm cho bề mặt Trái Đất gồ ghề hơn, còn các quá trình ngoại lực lại có xu hướng san bằng những chỗ gồ ghề đó.
+ Luôn tác động đồng thời và tạo ra các dạng địa hình trên bề mặt Trái Đất(phân tích).
+ Trong việc hình thành nên địa hình, mỗi lực có vai trò chủ yếu khác nhau: nội lực chủ yếu hình thành lên các dạng địa hình lớn như lục địa, đại dương, dãy núi cao, hẻm vực...; ngoại lực đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành nên địa hình cacxtơ, bãi bồi, vách biển, nấm đá, phio...
17. Tại sao địa hình trên Trái Đất đa dạng?
Hướ ng dẫn:
Địa hình được hình thành do tác động đồng thời của nội lực và ngoại lực.
- Các tác động của nội lực và ngoại lực ở các nơi trên Trái Đất khác nhau. Ví dụ: cùng tác động nội lực, nhưng có nơi uốn nếp, cỏ nơi nâng lên hạ xuống; nơi thì tạo thành núi uốn nếp, nơi thì tạo thành địa hào, địa lũy sống ngầm ở dưới đáy đại dương...; cùng là ngoại lực, nhưng nơi thì tạo thành khe rãnh, mương xói; nơi thì tạo thành nấm đá, cồn cát, vách biển...
- Sự phối hợp của nội lực và ngoại lực ở các nơi trên Trái Đất cũng khác nhau. Ví dụ: nơi sông ngòi bồi tụ phù sa lớn trên một vùng sụt võng tạo thành đồng bằng châu thổ, các đứt gãy tuy được bồi lắng trầm tích nhưng vẫn tạo thành các dòng sông lớn, các hồ sâu...